Số 1 + 2 (2023)
Bài viết
-
HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA DẠNG LỎNG VÀ NẤM RỄ CỘNG SINH CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH ĐẤT, SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÈN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 2 PDF: 0Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh dạng lỏng chứa hỗn hợp bốn dòng vi khuẩn Rhodopseudomonas palustris TLS06, VNW02, VNW64, VNS89 và chế phẩm vi sinh chứa nấm rễ nội cộng sinh đến đặc tính đất, sinh trưởng và năng suất lúa trên đất phèn thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Các nghiệm thức gồm (i) bón phân theo nông dân, (ii) bổ sung chế phẩm vi sinh PNSB, (iii) bổ sung chế phẩm vi sinh nấm rễ nội cộng sinh 1 (AMF1), (iv) bổ sung chế phẩm vi sinh nấm rễ nội cộng sinh 2 (AMF2). Kết quả cho thấy, bổ sung chế phẩm vi sinh PNSB, chế phẩm vi sinh AMF1 và AMF2 giúp tăng hàm lượng NH4+ lần lượt là 15,5%, 17,2% và 14,7% so với nghiệm thức bón phân theo nông dân. Ngoài ra, bổ sung chế phẩm vi sinh PNSB và chế phẩm vi sinh AMF1 giúp tăng hàm lượng P dễ tiêu đến 43,6% và 42,3%, theo thứ tự. Chế phẩm vi sinh PNSB, chế phẩm vi sinh AMF1 và AMF2 có hiệu quả trong tăng tổng hấp thu N (21,2 - 39,7 kg ha-1), P (4,20 - 7,00 kg ha-1) và năng suất lúa trên đất phèn (0,68 - 0,87 tấn ha-1) so với bón phân theo nông dân.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ HEXANAL GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN BẢO QUẢN QUẢ XOÀI ÚC R2E2
Abstract : 2 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định được ảnh hưởng của việc xử lý hexanal giai đoạn sau thu hoạch đến chất lượng và thời gian bảo quản quả xoài Úc (Mangifera indica L.). Quả xoài Úc sau thu hoạch được xử lý với dung dịch hexanal tại các nồng độ 0,03%, 0,04%, 0,05% và 0,06% trong thời gian 3, 5 và 7 phút, sau đó được bao gói trong bao bì LDPE dày 0,01 mm và bảo quản ở nhiệt độ 12 - 14º0C, 85 - 90% RH. Kết quả thực nghiệm cho thấy: xử lý quả xoài ở nồng độ 0,05% hexanal trong thời gian 5 phút có tác dụng hạn chế được tối đa sự phát triển của nấm bệnh, giảm tỷ lệ thối hỏng và thời gian bảo quản quả đạt 35 ngày với tỷ lệ thối hỏng 6,33%. Quả xoài chín đồng đều ở điều kiện phòng sau 7 - 9 ngày với các chỉ tiêu: TSS 16,3 - 17,0 ºBrix, hàm lượng axit 0,16 - 0,20%, thịt quả chắc dẻo, hơi mềm và có màu vàng đậm, có mùi thơm và vị ngọt đặc trưng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, khi xử lý quả xoài ở nồng độ hexanal cao hơn (0,06%) không mang lại chất lượng và thời gian bảo quản cao hơn đáng kể so với việc xử lý ở nồng độ 0,05% và thời gian 5 phút.
-
PHÂN TÍCH GIÁ KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HỘ GIA ĐÌNH: NGHIÊN CỨU ĐIỂM TẠI THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 3 PDF: 0Nghiên cứu chỉ ra rằng giá nước kinh tế của các hộ gia đình sử dụng nước trên địa bàn thành phố Vinh khác nhau giữa các nguồn nước mà họ sử dụng. Những hộ gia đình phải mua nguồn nước có giá nước kinh tế cao hơn, mức sẵn lòng chi trả để sử dụng nguồn nước máy từ dự án nhà máy nước là 17,03 nghìn đồng/m3. Những hộ gia đình sử dụng nước giếng có giá nước kinh tế ở mức 13,24 nghìn đồng/m3. Mức giá nước kinh tế chung hay mức sẵn lòng chi trả là để có nguồn nước máy sử dụng từ một nhà máy nước trên địa bàn thành phố Vinh của các hộ gia đình là 10,448 nghìn đồng/m3. Nghiên cứu là căn cứ quan trọng trong thực hiện các chính sách và quyết định xây dựng các nhà máy nước trên địa bàn, cũng như lồng ghép trong việc xác định giá nước phù hợp và các chính sách liên quan đến quản lý nguồn nước hiệu quả.
-
CẤU TRÚC XÃ HỘI VÀ TẬP TÍNH CỦA LOÀI VỌOC MÔNG TRẮNG (Trachypithecus delacouri Osgood, 1932) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÂN LONG
Abstract : 2 PDF: 0Nghiên cứu về cấu trúc xã hội và tập tính của loài Voọc mông trắng được thực hiện tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên đất ngập nước Vân Long trong khoảng thời gian từ 2020 - 2022. Phương pháp điều tra theo tuyến và điểm được sử dụng để thu thập số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu. Kết quả đã ghi nhận được 25 đàn Voọc mông trắng với ước tính tổng số 184 - 212 cá thể. Các đàn có kích thước từ 4 - 22 cá thể; kích thước trung bình xấp xỉ 8,5 cá thể/đàn. Cấu trúc xã hội của các đàn Voọc mông trắng bao gồm một đực và nhiều cái, nhiều đực và nhiều cái; đàn toàn đực. Các đàn một đực và nhiều cái có kích thước dao động từ 4 - 8 cá thể, với kích thước trung bình là 5,8 ± 1,8 cá thể/đàn. Các đàn nhiều đực nhiều cái có kích thước dao động từ 4 - 22 cá thể, với kích thước trung bình 10,1 ± 4,7 cá thể. Nghiên cứu đã mô tả một số tập tính của Voọc mông trắng trong quá trình nghiên cứu bao gồm tập tính di chuyển, tập tính kiếm ăn, tập tính uống nước, chăm sóc con non và tập tính giao phối của loài Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn quần thể Voọc mông trắng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
-
ĐA DẠNG DI TRUYỀN QUẦN THỂ DẺ TÙNG SỌC TRẮNG HẸP (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.) Ở SƠN LA VÀ HÒA BÌNH BẰNG CHỈ THỊ ISSR
Abstract : 1 PDF: 0Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây lá kim thuộc họ Thông đỏ. Hiện nay, các quần thể A. argotaenia liên tục bị suy giảm do chặt phá rừng. Kết quả phân tích ADN của 21 mẫu Dẻ tùng sọc trắng hẹp bằng 16 chỉ thị ISSR được chia thành 5 nhóm chính, thể hiện 142 phân đoạn ADN, trong đó 87% số phân đoạn đều thể hiện sự đa hình. 11 mẫu thu ở xã Chiềng Sơn (Mộc Châu, Sơn La) đều thuộc nhóm 1 (10 mẫu) và nhóm 2 (mẫu M4). Nhóm 3 và nhóm 4 gồm 7 mẫu thu ở xã Hang Kia (Mai Châu, Hòa Bình). Nhóm 5 gồm 3 mẫu Dẻ tùng sọc trắng hẹp thu ở xã Pà Cò (Mai Châu, Hòa Bình). Các thông số di truyền của quần thể Dẻ tùng sọc trắng hẹp được phân tích ở các mức độ quần thể cho thấy số lượng allen quan sát được (Na) ở mức độ cao và biến động từ 1,063 (quần thể Pà Cò) đến 1,683 (quần thể Chiềng Sơn); số lượng allen hữu hiệu (Ne) dao động từ 1,261 - 1,348; mức độ dị hợp tử mong đợi (He) dao động từ 0,214 - 0,157; chỉ số đa dạng di truyền Shannon (I) biến động từ 0,237 quần thể Pà Cò) đến 0,332 (quần thể Hang Kia). Trong 3 quần thể này, quần thể Hang Kia có mức độ đa dạng di truyền cao nhất và quần thể Pà Cò có mức độ đa dạng di truyền thấp nhất.
-
HỌ SIM (MYRTACEAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 2 PDF: 0Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài thuộc họ Sim (Myrtaceae) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An được tiến hành từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 8 năm 2022. 165 mẫu các loài thuộc họ Sim đã được thu thập và xử lý, qua đó đã xác định được 36 loài, thuộc 8 chi. Giá trị sử dụng của các loài họ Sim ở Khu BTTN Pù Hoạt được phân thành 6 nhóm, với tỉ lệ mỗi nhóm: nhóm cho tinh dầu (86,11%); nhóm cây cho gỗ (47,22%); nhóm cây làm thuốc (44,44%); nhóm cây ăn được (30,56%), nhóm cây làm cảnh và cho tanin (5,56%). Xác định được dạng sống của các loài thuộc họ Sim ở Khu BTTN Pù Hoạt đều thuộc cây chồi trên (Ph) với phổ dạng sống: SB= 8,33%Mg + 41,67%Me + 38,89%Mi + 11,11%Na. Yếu tố địa lý của các loài thuộc họ Sim ở Khu BTTN Pù Hoạt thuộc 5 yếu tố: yếu tố đặc hữu và cận đặc hữu Việt Nam chiếm 47,22% tổng số loài; yếu tố nhiệt đới châu Á chiếm 36,11%; yếu tố cổ nhiệt đới chiếm 8,33%; yếu tố cây trồng chiếm 5,56% và yếu tố chưa xác định chiếm 2,78%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA XÂM NHẬP MẶN ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2021 - 2022
Abstract : 3 PDF: 0Xâm nhập mặn (XNM) và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây ra nhiều ảnh hưởng đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Bến Tre trong những năm gần đây. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của XNM đến hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt) của các hộ dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu chọn 3 vùng đại diện theo các mô hình sản xuất nông nghiệp của mỗi vùng, cụ thể là xã Tân Phú, xã Phú Túc và xã Giao Long. Tại mỗi xã, tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên 35 hộ, tổng cộng 105 hộ tham gia phỏng vấn với phiếu phỏng vấn được soạn sẵn. Kết quả ghi nhận độ mặn từ tháng 12/2021 đến tháng 4/2022 tại xã Phú Túc và xã Tân Phú dao động quanh giá trị 1‰, tuy nhiên ở xã Giao Long tháng 2-3/2022 đạt 2,1-2,2‰ và tăng cao đến 4,2‰ vào tháng 4/2022. Theo đó có 29% diện tích canh tác nông nghiệp thiệt hại nghiêm trọng trên 70%. Tình trạng XNM đến sớm và kéo dài dẫn đến các vấn đề về đất canh tác như đất bị nhiễm mặn, thiếu hụt nguồn nước sử dụng cho các giống cây ăn trái.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT HỒ XÁNG THỔI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng nước hồ Xáng Thổi làm cơ sở cho việc quản lý và bảo vệ nguồn nước trên một số kênh, rạch, ao, hồ của thành phố Cần Thơ. Mẫu nước được thu theo chu kỳ nước lớn và nước ròng trong ngày từ tháng 3-5/2022 để phân tích các thông số lý, hóa, sinh như nhiệt độ, pH, DO, BOD, COD, N-NH4+, P-PO43- và tổng coliform của nước hồ. Có 2 đợt thu mẫu tại 6 điểm gồm 1 điểm kênh Xáng Thổi, 4 điểm xung quanh hồ và 1 điểm giữa hồ. Kết quả nghiên cứu được so sánh với QCVN 08-MT: 2015/BTNMT cột B1 và dựa vào WQI (2019) để đánh giá chất lượng nước mặt hồ Xáng Thổi. Kết quả cho thấy ở hầu hết các vị trí thu mẫu thông số nhiệt độ và pH phù hợp cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp và các mục đích tương tự khác; thông số DO, BOD, COD, N-NH4+, P-PO43- và coliform đều vượt QCVN 08-MT: 2015/BTNMT cột B1. Kết quả giá trị WQI dao động trong khoảng 15-60 với gram màu đỏ, màu cam và màu vàng cho thấy chất lượng nước mặt hồ Xáng Thổi đang bị ô nhiễm. Do đó, nước hồ Xáng Thổi cần có biện pháp xử lý trong tương lai.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ ẤP TRỨNG ĐẾN TỶ LỆ GIỚI TÍNH BA BA GAI (Palea steindachneri)
Abstract : 1 PDF: 0Ba ba gai là loài đặc sản của vùng miền núi Tây Bắc. Đặc biệt, ba ba gai đực có ưu điểm lớn nhanh và thịt ít mỡ hơn ba ba cái. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chỉ ra ảnh hưởng của nhiệt độ khi ấp trứng ba ba gai đến tỷ lệ giới tính. Trứng được chọn từ những lứa ba ba gai sinh sản tháng 4/2021 đưa vào ấp ở nhiệt độ từ 25 - 270C (Nghiệm thức 1) và từ 29 - 310C (Nghiệm thức 2). Trong quá trình ấp trứng, độ ẩm luôn được duy trì từ 65 - 70% ở cả hai nghiệm thức (NT). Mỗi NT được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở NT1 thời gian trứng nở là 75 ngày, tỷ lệ nở trung bình là 79,3 ± 3,4%. Ở NT2, thời gian trứng nở từ 60 ngày, tỷ lệ nở trung bình là 80,7 ± 2,6%. Ba ba gai nở ra được nuôi 5 tháng có tỷ lệ sống trung bình dao động từ 86,67 - 87,62%. Có sự khác nhau có ý nghĩa (P<0,05) ở hai NT về tăng trưởng và tỷ lệ đực. Ở NT2 ba ba gai có khối lượng trung bình là 578,42 ± 8,63 g/con và tỷ lệ ba ba đực chiếm 83,7 ± 3,76% cao hơn NT1. Ở NT1 ba ba gai có khối lượng trung bình là 504,73 ± 6,66 g/con và tỷ lệ ba ba gai đực chiếm 26,37 ± 3,37%. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình sản xuất giống ba ba đơn tính đực.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN CAO TỪ QUẢ NHÀU TỈNH ĐẮK NÔNG
Abstract : 2 PDF: 0Quả nhàu là loại quả giàu giá trị dinh dưỡng như đường, vitamin, chất khoáng và chất xơ, đặc biệt là chứa nhiều axit amin, caroten, vitamin C và các hợp chất có hoạt tính sinh học. Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới có rất ít các công trình nghiên cứu về chế biến cao từ quả nhàu. Vì vậy mục đích của nghiên cứu này là xây dựng quy trình chế biến cao từ quả nhàu của tỉnh Đắk Nông. Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ và phụ gia thực phẩm trong chế biến cao: dịch quả nhàu 69%, nước dứa ép 20,5%, cỏ ngọt 5%, đường trắng 2%, axit citric 1%, axit ascorbic 1%, axit malic 1% và muối ăn 0,5%. Từ đó đã xây dựng được quy trình chế biến cao từ quả nhàu tỉnh Đắk Nông với các thông số công nghệ là: các nguyên liệu và phụ gia này được đồng hóa trong thiết bị chuyên dụng với tốc độ 3.000 vòng/phút. Cô đặc bằng cách đun cách thủy trong thiết bị chuyên dụng theo hai giai đoạn, giai đoạn 1 cô đặc ở nhiệt độ 105oC thời gian 40 phút, sau đó chuyển sang giai đoạn 2 cô đặc ở nhiệt độ 85oC thời gian 45 phút. Cao thu được từ quy trình này có dạng đặc sệt, có màu nâu đen, mùi thơm đặc trưng và vị ngọt nhẹ hài hòa.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHỐI TRỘN CỎ NGỌT VÀ BẠC HÀ ĐẾN HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA VÀ CHẤT LƯỢNG TRÀ TÚI LỌC VỎ CAM
Abstract : 1 PDF: 0Vỏ cam từ lâu đã được biết có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe. Hiện nay vỏ cam đã được sấy khô và sử dụng như một nguyên liệu để chế biến trà. Tuy nhiên, trà thu được có vị đắng khó uống, cũng như hương vị chưa đặc trưng. Do đó, mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định một số công thức phối trộn có khả năng cải thiện chất lượng cảm quan và hàm lượng các hợp chất sinh học có trong trà túi lọc vỏ cam. Cụ thể, nghiên cứu đã lần lượt thực hiện các thí nghiệm gồm: (i) tỷ lệ phối trộn cỏ ngọt và (ii) tỷ lệ phối trộn bạc hà. Kết quả phân tích cho thấy sự thay đổi hàm lượng bột cỏ ngọt, bột lá bạc hà có ảnh hưởng thống kê (p<0,05) đến chất lượng cảm quan cũng như hàm lượng polyphenols (TPC), flavonoids (TFC), hoạt tính chống oxy hóa (DPPH, ABTS) của trà túi lọc vỏ cam. Công thức có tỷ lệ phối trộn bột vỏ cam: cỏ ngọt là 94: 6 (g/g), tỷ lệ phối trộn giữa hỗn hợp này với bạc hà là 70: 30 (g/g) cho sản phẩm có điểm cảm quan 6-7/9 điểm. Tại công thức này, trà có giá trị TPC, TFC, DPPH và ABTS lần lượt là 9,21 mg GAE/100 g vck; 2,13 mg QE/100 g vck; 3,82 mg AAE/100 g vck; 6,06 mg/100 g vck. Kết quả phân tích cho thấy chất lượng trà đáp ứng theo yêu cầu của TCVN 7975: 2008. Ngoài ra, kết quả bước đầu cho thấy sau 25 ngày bảo quản tại nhiệt độ phòng trà không có sự khác biệt đáng kể về hoạt độ nước, màu sắc và TPC, TFC, DPPH, ABTS so với trước bảo quản. Phối trộn cỏ ngọt và lá bạc hà giúp nâng cao giá trị cảm quan và hoạt tính sinh học của trà túi lọc vỏ cam.
-
SO SÁNH CHỌN LỌC MỘT SỐ CẶP LAI TỨ NGUYÊN ĐỂ CHỌN RA GIỐNG TẰM THÍCH HỢP NUÔI Ở VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Abstract : 1 PDF: 0Để chọn tạo được giống tằm lưỡng hệ thích ứng với điều kiện khí hậu nóng khô, nóng ẩm vùng duyên hải Nam Trung bộ và đề kháng được với bệnh virus BmNPV. Nghiên cứu đã sử dụng 16 cặp lai lưỡng hệ tứ nguyên nuôi trong điều kiện nóng khô (32±1oC; < 75%), nóng ẩm (32±1oC; >90%) và lây nhiễm nguồn bệnh virus BmNPV qua thức ăn ở nồng độ 105 tế bào/ml. Kết quả thí nghiệm đã chọn ra được 9 cặp lai thích ứng với điều kiện nóng ẩm gồm: A17*(A2*C2), A18*(93*C2), A17*(Đ9*C2), A17*(C2*B42), A18*(Đ9*C2), A18*(C2*93), A18*(C2*Đ9), A17*(C2*93), A18*(C2*A2); 10 cặp lai thích ứng với điều kiện nóng khô gồm: A17*(C2*B42), A17*(Đ9*93), A17*(A2*C2), A18*(C2*Đ9), A17*(93*C2), A18*(C2*93), A17*(C2*93), A17*(C2*A2), A17*(C2*Đ9), A18*(Đ9*C2) và 8 cặp lai có sức chống chịu tốt với bệnh virus BmNPV là: A18*(C2*A2), A18*(C2*Đ9), A18*(Đ9*C2), A17*(Đ9*C2), A17*(93*C2), A17*(Đ9*93), A18*(Đ9*93), A17*(A2*C2).
-
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIỐNG TẰM CÓ NĂNG SUẤT CAO THÍCH HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN SINH THÁI HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Abstract : 1 PDF: 0Kết quả nuôi thử nghiệm 4 giống tằm Lưỡng hệ kén trắng lai tạo trong nước BT1218, GQ2218, GQ9312, GQ1235 và giống LQ2 (giống Trung Quốc làm đối chứng) ở vụ hè và thu năm 2019 và vụ xuân năm 2020 cho thấy: giống tằm GQ1235 có năng suất kén cao ở cả 3 mùa vụ, dao động 15,87-16,43 kg, bình quân năng suất kén đạt 16,09 kg/vòng trứng, chất lượng tơ kén gần tương đương với giống đối chứng LQ2. Giống GQ1235 được lựa chọn để đưa đi xây dựng mô hình vào năm 2020 tại xã Tân Đồng và Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, với 30 hộ dân tham gia, nuôi tổng số 240 vòng trứng. Kết quả mô hình nuôi giống tằm GQ1235 cho năng suất kén bình quân đạt 15,57 kg/vòng trứng, cao hơn so với giống đối chứng LQ2 là 10,93% (tăng 1,53 kg kén/vòng trứng). Tính toán hiệu quả kinh tế khi nuôi giống GQ1235 so với nuôi giống LQ2 đã tăng 262.200 đồng/vòng trứng, thu nhập/ha/năm đạt 186,84 triệu đồng, tăng 18,36 triệu đồng. Qua đó cho thấy giống tằm GQ1235 thích hợp với điều kiện khí hậu tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH BẠC LÁ (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) VÀ BỆNH ĐẠO ÔN (Pyricularia oryzae) TRONG TẬP ĐOÀN LÚA ĐỊA PHƯƠNG TỪ NGÂN HÀNG GEN CÂY TRỒNG QUỐC GIA
Abstract : 1 PDF: 0Bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) và bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae) là hai loại bệnh gây hại lớn cho canh tác lúa ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Kết quả đánh giá khả năng kháng bệnh bạc lá và bệnh đạo ôn của 239 giống lúa địa phương từ Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đã xác định được: với vi khuẩn noi I (isolate ND) không có giống kháng cao, có 14 giống kháng (chiếm tỷ lệ 5,85%) và 225 giống nhiễm (chiếm tỷ lệ 94,15%); với vi khuẩn noi II (isolate VP) có 1 giống (nếp thơm - 1778) kháng cao, 16 giống kháng và 223 giống nhiễm tương ứng là 0,42%; 6,7% và 93,3%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 46 giống kháng (chiếm tỷ lệ 19,2%) và 193 giống nhiễm (chiếm tỷ lệ 80,7%) với chủng nấm đạo ôn 757,6. Giống lúa Ble blu (2127) và Play Trong Ru Tu (2101) có khả năng kháng vừa với bệnh bạc lá và kháng cao với bệnh đạo ôn. Những giống lúa địa phương kháng với bệnh bạc lá, đạo ôn là vật liệu tốt cho công tác chọn tạo giống lúa kháng bệnh.
-
KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM PHÂN BÓN NPK CHUYÊN DÙNG CHO CÂY LẠC TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Abstract : 1 PDF: 0Miền Trung và Tây Nguyên là vùng trồng lạc trọng điểm của cả nước và cho hiệu quả kinh tế cao, đóng góp đáng kể trong việc nâng cao sinh kế của người nông dân. Vì thế, ngoài việc chọn tạo giống thì nghiên cứu về kỹ thuật canh tác, trong đó nghiên cứu, sản xuất và sử dụng phân bón cho cây lạc cũng là ưu tiên đặt ra. Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật nông nghiệp Bình Định đã phối hợp tổ chức khảo nghiệm diện hẹp và diện rộng phân bón NPK chuyên dùng cho cây lạc (NPK 9-20-18 + 4 MgO + TE) tại Bình Định, Phú Yên và Quảng Ngãi. Kết quả khảo nghiệm diện hẹp đã xác định lượng bón 450 kg phân chuyên dùng trên nền 5 tấn phân chuồng hoai và 500 kg vôi đã cho năng suất đạt 44,7 tạ/ha, vượt hơn đối chứng 17,1%. Để minh chứng cho loại phân này, Công ty đã khảo nghiệm diện rộng tại 6 điểm ở 5 huyện của 3 tỉnh (Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) trong vụ đông xuân 2020-2021 cho kết quả tốt với năng suất bình quân đạt 40,6 tạ/ha, bội thu năng suất 16,5% và lãi 59,3 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng 43,4%. Khuyến cáo nhân rộng kết quả khảo nghiệm phân bón NPK chuyên dùng cây lạc với lượng bón từ 450 kg/ha tại những vùng có điều kiện tương tự.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CANXI KẾT HỢP VỚI KALI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT QUẢ THANH LONG RUỘT TÍM HỒNG LĐ5
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu ảnh hưởng của canxi và kali đến năng suất và phẩm chất quả thanh long ruột tím hồng LĐ5 được thực hiện tại huyện Châu thành, tỉnh Tiền Giang. Thí nghiệm nhằm xác định các công thức phân bón chứa K2O và có bổ sung nitrat canxi và clorua canxi dạng phun qua lá giúp tăng độ ngọt, độ dầy vỏ quả, độ chắc thịt quả và năng suất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 7 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Tất cả các nghiệm thức được bón phân nền với liều lượng 500 g N + 500 g P2O5 /trụ/năm. Nghiệm thức 1 (500 g K2O/trụ/năm), nghiệm thức 2 (500 g K2O/trụ/năm + 2% Ca(NO3)2, nghiệm thức 3 (500 g K2O/trụ/năm + 2% CaCl2), nghiệm thức 4 (750 g K2O/trụ/năm), nghiệm thức 5 [750 g K2O/trụ/năm + 2% Ca(NO3)2], nghiệm thức 6 (750 g K2O/trụ/năm + 2% CaCl2) và nghiệm thức 7 đối chứng (0 g K2O/trụ/năm). Kết quả qua 2 vụ thu hoạch ghi nhận các nghiệm thức bón 500 g - 750 g K2O/trụ/năm làm tăng độ ngọt quả. Các nghiệm thức bón canxi dạng phun qua lá làm tăng độ chắc thịt quả, độ dầy vỏ quả và màu sắc tai quả ở nghiệm thức 750 g K2O/trụ/năm + 2% Ca(NO3)2 và 750 g K2O/trụ/năm + 2% CaCl2. Trong đó nghiệm thức 750 g K2O/trụ/năm + 2% Ca(NO3)2 có tác dụng rõ nhất làm tăng khối lượng quả (403,67 - 408,33 g) và năng suất (25,52 - 26,97 kg/trụ) đạt cao hơn nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức còn lại.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ ĐẤT, ĐỘ MẶN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY MÈ (Sesamum indicum L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 2 PDF: 0Tưới nước tiết kiệm và sử dụng nước nhiễm mặn tưới cho cây trồng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng nước trong canh tác nông nghiệp dưới tác động của khô hạn và xâm nhập mặn. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của tưới nước nhiễm mặn và ẩm độ đất lên sinh trưởng và năng suất cây mè. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nhân tố: độ mặn nước tưới (nồng độ 0‰, 0,5‰ và 1,5‰) và độ ẩm đất (60%, 70%, 80% và 90% lượng nước thủy dung ngoài đồng (FC), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu ghi nhận, tưới nước nhiễm mặn ảnh hưởng đến dung trọng và độ xốp của đất, gia tăng hàm lượng natri hòa tan và trao đổi trong đất, đồng thời ảnh hưởng bất lợi đến tất cả giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây mè. Việc duy trì ẩm độ đất ở mức thấp (60% FC) không làm ảnh hưởng đến chiều cao và số cặp lá, nhưng có ảnh hưởng đến thành phần năng suất, sinh khối và năng suất của cây mè. Tưới nước nhiễm mặn 1,5‰ và duy trì ẩm độ đất từ 60 - 70% FC cho kết quả tỉ lệ trái lép trên cây mè là cao nhất, dẫn đến ảnh hưởng năng suất cây mè thấp hơn các nghiệm thức còn lại. Mặc dù độ mặn của nước tưới cao đã ảnh hưởng bất lợi cả sự nảy mầm, sinh trưởng, thành phần năng suất và năng suất của cây mè, nhưng duy trì ẩm độ đất từ 80 - 90% FC hạn chế được tác động bất lợi của mặn lên sinh trưởng và phát triển của cây. Cần tiến hành nghiên cứu tiếp theo để đánh giá và kiểm tra các kết quả ở điều kiện thực tế đồng ruộng.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY SUY THOÁI VÙNG CAM SÀNH TẠI HÀ GIANG
Abstract : 1 PDF: 0Để xác định được nguyên nhân gây suy thoái vùng cam Sành Hà Giang, đã tiến hành thu thập các mẫu đất trồng, rễ và lá cam tại 3 huyện trồng cam Sành của tỉnh Hà Giang (Vị Xuyên, Quang Bình và Bắc Quang). Kết quả phân tích cho thấy, tất cả các mẫu đất đều phù hợp cho việc trồng cây cam, có hàm lượng mùn rất cao (2,99 - 5,89%), cao hơn nhiều so với yêu cầu (2,0 - 2,5%), nhưng có độ pH thấp (3,86 - 5,04), thấp hơn nhiều so với yêu cầu (5,5 - 6,5); hàm lượng đạm tổng số từ 0,132 - 0,286% (theo yêu cầu là từ 0,1 - 0,15%); hàm lượng đạm dễ tiêu từ 5,44 - 14,08 mg/100 g (theo yêu cầu 4 - 8 mg/100 g). Tương tự, hàm lượng P, K tổng số và P, K dễ tiêu đều khá cao, nhưng hàm lượng Ca, Mg lại khá thấp so với yêu cầu của cây cam. Hàm lượng đạm được tích lũy trong lá đều thấp (1,88 - 2,49%); hàm lượng lân hấp thu vào lá nằm ở ngưỡng cao và rất cao (0,260 - 0,445%); riêng hàm lượng kali trong lá có sự biến động mạnh từ ngưỡng thấp, đến ngưỡng cao và thừa (0,74 - 2,67%). Vùng cam Hà Giang xuất hiện 3 loại bệnh nguy hiểm, gây nên tình trạng suy thoái vùng cam Hà Giang là bệnh vàng lá thối rễ, bệnh Greening (42,85 - 57,14%), bệnh Tristezra (7,14 - 14,28%); tác nhân chính gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây cam Sành Hà Giang là nấm Fusarium (có tỷ lệ nhiễm rất cao, chiếm 100% số mẫu thu thập) và nấm Pythium/Phytopythium có tỷ lệ nhiễm cũng rất cao, từ 25 - 75%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ CAO ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT2006 TRỒNG TRONG NHÀ MÀNG TẠI AN GIANG
Abstract : 2 PDF: 0Để ứng phó với tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu lên sinh trưởng và năng suất cây trồng, nghiên cứu được thực hiện dựa trên kịch bản nhiệt độ tăng. Cây đậu tương được trồng trong 4 nhà màng liền kề được thiết kế ngăn cách nhau bằng các vách nilon với mục đích nhằm tạo sự khác biệt về nhiệt độ so với điều kiện tự nhiên bên ngoài dưới tác động của hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Nhiệt độ được theo dõi ghi nhận tự động bằng TinyTag Plus 2 data loggers trong suốt quá trình thực hiện thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm cho thấy, khi nhiệt độ tăng trên 32°C, thời gian sinh trưởng của cây đậu tương sớm hơn 5 - 7 ngày và sinh trưởng, năng suất của cây giảm. T3 có nhiệt độ trung bình cao hơn bên ngoài 4,4°C tương ứng với sinh khối và năng suất thấp nhất là 9,7 g/cây, giảm đến 70%. Ở điều kiện T1, có nhiệt độ trung bình 30,5°C chưa làm giảm năng suất so với cây đậu tương trồng bên ngoài nhà màng.
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ GIỐNG DƯA CHUỘT BABY NHẬP NỘI TRỒNG TRONG NHÀ CÓ MÁI CHE TẠI THANH HÓA
Abstract : 1 PDF: 0Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và hiệu quả kinh tế một số giống dưa chuột baby nhập nội trồng trong nhà có mái che tại Thanh Hoá. Thí nghiệm gồm 6 công thức, 3 lần nhắc lại, công thức 1 (đối chứng): giống dưa chuột baby EACB 031; công thức 2: giống dưa chuột baby Cengel_ RZ_F; công thức 3: giống dưa chuột baby EACB 030; công thức 4: giống dưa chuột baby Fadia; công thức 5: giống dưa chuột baby Khassib; công thức 6: giống dưa chuột baby Joyfit. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện vụ đông 2021, giống dưa Khasibb sinh trưởng, phát triển tốt, thời gian sinh trưởng là 108 ngày, quả có vị thơm, số quả thương phẩm 41,2 quả/cây, khối lượng quả 67,5 g/quả, khối lượng quả trên cây 2,783 kg/cây, năng suất lý thuyết 61,22 tấn/ha, năng suất thực thu 55,08 tấn/ha và lãi thuần đạt cao nhất 562,55 triệu đồng/ha/vụ; tiếp đến là giống Fadia 489,31 triệu đồng/ha/vụ và thấp nhất là giống Joyfit chỉ đạt 164,76 triệu đồng/ha/vụ. Trong vụ xuân hè 2022, giống dưa Khasibb có thời gian sinh trưởng 112 ngày, năng suất lý thuyết đạt 50,47 tấn/ha, năng suất thực thu đạt 45,41 tấn/ha, lãi thuần đạt cao nhất 755,88 triệu đồng/ha/vụ. Kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến cáo sử dụng giống Khasibb áp dụng đại trà trong nhà có mái che tại Thanh Hóa.








